W.A.Mozart - Cây sáo thần Overture
Khúc overture của vở cũng như trong nhiều tác phẩm khác, cũng mang tính dẫn dắt, chuẩn bị cho khán giả bầu không khí của câu chuyện sắp diễn ra. Vào thời của Mozart, các khúc overture không phải lúc nào cũng có âm điệu gần với phần nhạc trong vở kịch, nhưng với Cây sáo thần, Mozart đã liên kết tất cả âm điệu của cả overture và phần nhạc trong vở với nhau, đặc biệt bằng một mô – típ nổi bật gồm ba hợp âm. Đã có nhiều nhà nghiên cứu liên hệ mô - típ ba nốt này với con số 3 là biểu tượng của hội Tam Điểm. Mô – típ này vang lên ở ngay mở đầu khúc nhạc, sau đó được nhắc đi nhắc lại trong cả khúc overture và xuyên suốt vở kịch, là điểm nhấn cho những phân cảnh quan trọng.
Về hình thức, Overture vở Cây sáo thần mang cấu trúc sonata cổ điển, gồm ba phần: phần đầu tiên trình bày 2 chủ đề; một phần phát triển ở giữa, nơi các chủ đề biến hóa đa dạng; và phần tái hiện cuối cùng nhắc lại các chủ đề chính. Bạn có nghe thấy đoạn dẫn nhập adagio chậm rãi, trang nghiêm mà Mozart sử dụng để mở đầu cho khúc overture không ? Phần giới thiệu này báo trước bầu không khí buổi lễ và lời cầu nguyện trang trọng của vị linh mục sẽ xuất hiện sau đó trong vở opera.
Sau phần giới thiệu chậm, bạn có thể nghe thấy một chủ đề allegro nhanh nhẹn bắt đầu ở cường độ vừa khẽ, và sau đó xây dựng với cường độ mạnh ? Đó là cách Mozart gợi ý những khía cạnh hài hước, tinh nghịch và tươi sáng của vở opera. Tiếp đến, bạn có thể nghe thấy chủ đề thứ hai, tương phản được vang lên như những lời hỏi – đáp giữa các cây kèn gỗ.
Nếu để ý, ta có thể thấy những manh mối để nhận biết phần phát triển nổi tiếp sau đó: đó là khi âm nhạc thay đổi bầu không khí bằng ba hợp âm vang lên trang trọng từng xuất hiện, rồi lại thấy những chủ đề chính trở lại ở những dáng hình mới, ở những điệu tính mới - chúng được Mozart triển khai với nhiều cách khác nhau, đa dạng và phong phú. Cuối cùng, phần tái hiện khẳng định lại lần nữa những chủ đề ấy ở điệu tính chính ban đầu – Mi giáng trưởng.
Cách triển khai cấu trúc này là đặc điểm của hình thức sonata, thường được Mozart sử dụng cho những bản overture sau này của ông.
Về âm sắc, khán giả có thể nhận ra những cây đàn góp mặt trong khúc overuture đều thuộc biên chế cơ bản của dàn nhạc giao hưởng thời Cổ điển: nguyên dàn dây gồm violin, viola, cello và contrebass; các nhạc cụ bộ gỗ gồm sáo flute, kèn oboe, clarinet, bassoon và bộ đồng có kèn cor, trumpet, trombone và trống timpani thuộc bộ gõ.
Khúc Overture đạt được sự cân bằng hoàn hảo giữa nhiều yếu tố đối lập: nhịp độ có khu vực chậm trang trọng, có khu vực lại tươi tắn linh hoạt; có khi như thầm thì đưa chuyện, có khi bùng nổ cường độ đến độ sảng khoái, có thắt rồi lại mở nút… Pha trộn tất cả vào thành một khối mà vẫn quyện, vẫn sánh và duyên dáng dí dỏm – làm được điều này đúng là trên đời chỉ có Mozart mới là bậc thầy !
Mai Hạnh, 7.2022
Tin tức liên quan
GABRIEL FAURÉ – CONCERTO VIOLIN RE THỨ, OP. 14
Fauré đã nổi tiếng toàn thế giới với Pavane, Requiem, Sicilienne, các bản Nocturne (Dạ khúc) cho piano, Après un rêve và Clair de lune..., nhưng với khối di sản viết cho dàn nhạc, Fauré đã không thể để lại cho hậu thế những tác phẩm được xuất bản hoàn chỉnh. Concerto Violin cung Re thứ op.14 là một trong số đó.
LUDWIG van BEETHOVEN Symphony No. 7 A-major, Op. 92
Giao hưởng số 7 Op. 92 La trưởng được Ludwig van Beethoven sáng tác trong khoảng từ năm 1811 đến năm 1812, trong khoảng thời gian tác giả hồi phục sức khỏe tại Teplitz. Đây cũng là giai đoạn giữa của cuộc đời Beethoven, khi bút pháp sáng tác của ông đã đạt tới độ trưởng thành, và cũng là khi chứng điếc của ông trở nặng, phải dùng đến sổ hội thoại để người ta ghi ra những gì muốn nói với ông. Khi Beethoven bắt đầu sáng tác bản giao hưởng thứ 7, Napoléon đang lên kế hoạch cho chiến dịch chống lại Nga. Sau Giao hưởng 3, bản số 7 dường như là một trong những cuộc đối đầu âm nhạc khác của Beethoven với Napoléon, trong bối cảnh các cuộc chiến tranh giải phóng châu Âu khỏi những năm Napoléon thống trị.
Georges Bizet - L’ Arlésienne số 2
Georges Bizet (1838 – 1875) không phải cái tên xa lạ với khán giả Việt Nam, bởi ông quá nổi tiếng với Carmen – vở opera đã được trình diễn nhiều lần. Trên thế giới, Bizet còn ghi dấu ấn với nhiều thể loại khác, trong đó có cả phần nhạc ông viết cho vở kịch L’Arlésienne (Người phụ nữ từ xứ Arles) của tác gia Alphonse Daudet. Vở kịch được trình diễn lần đầu năm 1872 ở Paris, với phần nhạc đệm của Bizet gồm 27 tiểu khúc đánh số viết cho đơn ca, hợp xướng và dàn nhạc nhỏ.